Thỏa thuận với người lao động thuê lại và doanh nghiệp cho thuê lại lao động để tuyển dụng chính thức | Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp

* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "BARIA.CONGTYTHAMTU.ORG", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Cho thuê lao động sản xuất: 0981.293.005 - 0969.786.635

Việc sửa đổi, bổ sung hoặc gia hạn hợp đồng chỉ có giá trị pháp luật khi có sự thỏa thuận của cả hai bên bằng văn bản và được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

9.3. Trong thời hạn hiệu lực Hợp đồng, nếu pháp luật, chính sách hoặc quy định của một hoặc hai nước có thay đổi liên quan đến các nội dung trong hợp đồng, hai bên sẽ sửa đổi, bổ sung bằng văn bản để đảm bảo hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.

9.4. Hợp đồng này được tự động gia hạn với thời hạn hiệu lực mỗi lần gia hạn tiếp theo là 03 năm nếu hai bên không có ý kiến khác theo khoản 2 của Điều này.

9.5. Các Bên có thể chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong các trường hợp sau (13): ………………………………………………………………………

Trong trường hợp bất khả kháng không thể tiếp tục thực hiện Hợp đồng (chiến tranh, thiên tai,…), các bên phải cùng nhau giải quyết những vấn đề còn tồn tại, ưu tiên những vấn đề liên quan đến quyền lợi của người lao động, đảm bảo người lao động được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp được quy định trong hợp đồng này và phù hợp với quy định luật pháp của nước tiếp nhận.

9.6. Trường hợp hợp đồng này bị chấm dứt thì hợp đồng lao động giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động sẽ vẫn còn hiệu lực, quyền và nghĩa vụ của các bên đều có hiệu lực cho đến khi hợp đồng lao động kết thúc.

Ký quỹ và quản lý tiền ký quỹ

1. Tiền ký quỹ được sử dụng để giải quyết các rủi ro và các khoản phải đền bù có thể xảy ra trong quá trình hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp.

2. Doanh nghiệp phải nộp tiền ký quỹ là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) tại ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch chính (sau đây viết tắt là ngân hàng).

Doanh nghiệp thực hiện thủ tục nộp tiền ký quỹ theo quy định của ngân hàng và quy định của pháp luật.

Ngân hàng có trách nhiệm xác nhận tiền ký quỹ kinh doanh hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp.

3. Doanh nghiệp được hưởng lãi suất từ tiền ký quỹ theo thỏa thuận với ngân hàng.

4. Sau khi thực hiện hết các nghĩa vụ tài chính liên quan đến hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp, doanh nghiệp được hoàn trả tiền ký quỹ trong các trường hợp sau:

a) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm về việc doanh nghiệp không được cấp, cấp lại, gia hạn giấy phép;

b) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm về việc doanh nghiệp nộp lại, bị thu hồi giấy phép.

5. Tiền ký quỹ được rút trong trường hợp nhận được văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm xác nhận về việc giải quyết rủi ro hoặc các khoản đền bù xảy ra trong quá trình hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp.



Ngân hàng không được cho doanh nghiệp rút tiền ký quỹ khi chưa có ý kiến bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm.

Chủ thể đào tạo, cung ứng lao động thuyền viên

Trong chuỗi đào tạo, huấn luyện thuyền viên, cung ứng thuyền viên Việt Nam đến làm việc trên các tàu đánh cá thuộc sử hữu, quản lý của chủ tàu nước ngoài, có nhiều bên tham gia như: các tổ chức, công ty trong nước, có chức năng xuất khẩu thuyền viên (có thể gọi chung là tổ chức xuất khẩu thuyền viên); chủ tàu hay người khai thác, quản lý, tàu nước ngoài và thuyền viên Việt Nam. Trong chuỗi tạo ra và cung ứng thuyền viên xuất khẩu, về cơ bản gồm ba khối: cơ sở giáo dục, đào tạo hàng hải; trung tâm huấn luyện hàng hải và tổ chức cung ứng thuyền viên xuất khẩu[3].

Trong đó: Cơ sở đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải là cơ sở huấn luyện thuyền viên làm việc trên tàu biển theo các quy định của Công ước STCW, được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 29/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 3 năm 2017 của Chính phủ quy định về điều kiện cơ sở đào tạo, huấn luyện và tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải. Còn tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải là doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực tuyển dụng, cung ứng lao động là thuyền viên làm việc trên tàu biển thông qua hình thức cho thuê hoặc cho thuê lại hoặc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật[4].

Theo quy định hiện hành, một tổ chức Việt Nam được cấp phép đưa thuyền viên đi làm việc trên các tàu đánh cá nước ngoài (xuất khẩu lao động) thì họ phải ký hai hợp đồng: (i)Hợp đồng thứ nhất là hợp đồng với bên đối tác nước ngoài, gọi là hợp đồng cung ứng lao động và tranh chấp giữa bên cung ứng của Việt Nam với bên nước ngoài sẽ giải quyết căn cứ theo hợp đồng này. Hợp đồng cung ứng lao động là sự thoả thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp của Việt Nam với bên nước ngoài về kiện, nghĩa vụ của các bên trong việc cung ứng và tiếp nhận người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Có thể hiểu là bên cung ứng của Việt Nam sẽ cung cấp số lượng, chất lượng lao động cho đối tác nước ngoài theo hợp đồng đã ký và hợp đồng này phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. (ii)Hợp đồng thứ hai là hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, được ký kết với thuyền viên Việt Nam. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp với người lao động về quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

 1.2.Hình thức cung ứng lao động thuyền viên



Pháp luật nhiều nước trên thế giới và pháp luật Việt Nam đều ghi nhận sự tồn tại song hành hai hình thức quản lý thuyền viên, thứ nhất, chủ tàu quản lý trực tiếp thuyền viên làm việc cho đội tàu của mình, tuy nhiên hình thức thứ hai phổ biến hơn, đó là chủ tàu chỉ quản lý con tàu, còn thuyền viên được quản lý bởi tổ chức cung ứng thuyền viên. Chính vì vậy, chủ tàu hoặc người khai thác hay người quản lý tàu nước ngoài có thể thuê thuyền viên làm việc cho đội tàu của họ dưới hai hình thức đó là: ký hợp đồng trực tiếp với thuyền viên hoặc thuê thuyền viên thông qua việc ký hợp đồng với các công ty cung ứng thuyền viên. Thực tế hiện nay, hầu hết thuyền viên Việt Nam làm việc trên các tàu đánh cá nước ngoài thông qua hình thức cung ứng lao động, trường hợp thuyền viên có thể tự ký hợp đồng lao động trực tiếp với chủ tàu nước ngoài là rất hiếm[5].

 1.3.Quản lý nhà nước trong hoạt động cung ứng lao động thuyền viên

Hiện nay, hoạt động cung ứng lao động thuyền viên Việt Nam làm việc trên các tàu đánh cá nước ngoài giữa doanh nghiệp trong nước với nước ngoài được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật lao động chung và một số văn bản hướng dẫn của Chính phủ như: Bộ luật Lao động năm 2012; Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006; Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015; Nghị định số 29/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 3 năm 2017 của Chính phủ quy định về điều kiện cơ sở đào tạo, huấn luyện và tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải;

Nghị định số 147/2018/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hàng hải. Đồng thời, hoạt động cung ứng này cũng phải tuân thủ các cam kết trong Công ước Lao động Hàng hải 2006 (MLC) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức có hiệu lực từ ngày 20/8/2013. Từ góc độ pháp luật, thuyền viên làm việc trên tàu cá ngoài có thể cùng một lúc nhận sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật như: pháp luật của nước mà tàu mang cờ, pháp luật của nước mà thuyền viên mang quốc tịch, pháp luật của nước có cảng mà tàu cá đến hoạt động.

Nhìn chung, hoạt động của chuỗi cung ứng thuyền viên không phải lúc nào cũng diễn ra tốt đẹp, thuận lợi, mà có thể phát sinh những bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên dẫn đến xung đột, biểu hiện dưới dạng các tranh chấp về nghĩa vụ cũng như quyền lợi.

Có những tranh chấp ảnh hưởng rất lớn đến thuyền viên và gia đình của họ, tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của tổ chức xuất khẩu thuyền viên, gây bất ổn đối với trật tự an ninh xã hội. Lường hết được những tranh chấp có thể xảy ra giữa các bên trong hoạt động xuất khẩu thuyền viên, qua đó đưa ra những giải pháp hạn chế được các tranh chấp, trong đó có việc hạn chế những tranh chấp phát sinh giữa các công ty xuất khẩu thuyền viên trong nước với thuyền viên Việt Nam, với mục đích bảo vệ quyền lợi không những của thuyền viên, mà còn bảo vệ quyền lợi của chính các tổ chức xuất khẩu thuyền viên cũng như quyền lợi của chủ tàu hay người khai thác, quản lý tàu ngoài, làm lành mạnh hóa và chuyên nghiệp hóa lĩnh vực xuất khẩu thuyền viên của Việt Nam, góp phần ngày càng phát triển nguồn nhân lực thuyền viên xuất khẩu Việt Nam bền vững là rất cần thiết.

 2.Một số hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cung ứng lao động là thuyền viên Việt Nam làm việc trên các tàu đánh cá nước ngoài

Trong hoạt động cung ứng thuyên viên luôn tồn tại một bên chủ thể là người nước ngoài, cụ thể là người sử dụng lao động (chủ tàu hoặc người khai thác tàu) thông qua tổ chức cung ứng thuyền viên của Việt Nam để thuê thuyền viên Việt Nam làm việc trên các tàu đánh cá mang quốc tịch nước ngoài nên các bên phải đối mặt với nhiều rào cản về văn hóa, ngôn ngữ, tính chất công việc.



Trong quan hệ lao động này, thuyền viên Việt Nam thường là chủ thể yếu thế hơn nên phải đối mặt với nhiều nguy cơ như bị lạm dụng sức lao động, làm việc trong các điều kiện không đảm bảo an toàn tiêu chuẩn chung, bị người sử dụng lao động đối xử về chế độ tiền lương và các điều kiện sinh hoạt không bảo đảm theo các yêu cầu của luật pháp quốc tế, cũng như các khó khăn khi hệ thống pháp luật của quốc gia mà thuyền viên mang quốc tịch chưa đủ mạnh để bảo vệ họ trước khi ký hợp đồng lao động.

Bên cạnh đó, khác biệt với những quan hệ lao động thông thường, thuyền viên là nghề đặc thù đòi hỏi phải có kiến thức và tay nghề cao, cường độ lao động vất vả, chịu ảnh hưởng của môi trường khắc nghiệt, rủi ro giữa muôn trùng sóng gió; các con tàu lênh đênh trên biển còn là đối tượng luôn bị rình rập bởi cướp biển và những tai nạn bất ngờ.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có đường lối chính sách về chiến lược phát triển nguồn nhân lực thuyền viên nhưng vẫn còn những hạn chế trong việc triển khai cụ thể hóa những chủ trương đường lối chính sách đó thành các văn bản dưới luật nhằm tạo động lực cho phát triển nguồn nhân lực thuyền viên xuất khẩu; cũng như chưa có mục tiêu cho công tác xuất khẩu thuyền viên ở cấp quản lý nhà nước đến các cơ sở đào tạo và huấn luyện hàng hải.

 2.1.Hạn chế trong quy định về trách nhiệm của tổ chức cung ứng lao động là thuyền viên.

Các tổ chức cung ứng thuyền viên ở nước ta hiện nay về cơ bản được phân loại thành hai nhóm chính: (i)Nhóm thứ nhất, bao gồm các doanh nghiệp quy mô, có kinh nghiệm trong công tác xuất khẩu thuyền viên; hay những doanh nghiệp mới thành lập, nhưng khá chuyên nghiệp và có đối tác là những chủ tàu hoặc người quản lý hay khai thác tàu lớn, uy tín, tại các nước tiên tiến, có ngành hàng hải phát triển. (ii)Nhóm thứ hai, là những doanh nghiệp nhỏ lẻ, có năng lực và tiềm lực hạn chế, với tư tưởng làm ăn ngắn hạn, ít có sự đầu tư, chủ yếu đi gom nhặt cả thuyền viên và đối tác chủ tàu nước ngoài. Các tổ chức này chỉ được hoạt động khi được cấp “Giấy xác nhận phù hợp về tuyển dụng và cung ứng thuyền viên hàng hải” (gọi chung là giấy xác nhận) – văn bản do Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam cấp cho tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải để xác nhận sự phù hợp về tuyển dụng và cung ứng thuyền viên hàng hải theo quy định của MLC[6].

Có thể nhận định, trong quan hệ lao động này, vai trò của các tổ chức cung ứng thuyền viên là rất quan trọng, là cầu nối giữa thuyền viên và tổ chức có nhu cầu sử dụng lao động thuyền viên, là trung gian để

Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp

Hiện nay, các công ty, doanh nghiệp cũng như các cơ sở sản xuất cần đến đội ngũ lao động có trình độ, lao động phổ thông, làm thời vụ hoặc dài hạn để đáp ứng được yêu cầu gia tăng về khối lượng đơn hàng. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn, để có thể tuyển dụng được nguồn nhân lực đáp ứng được những yêu cầu cơ bản như mong muốn là việc không hề dễ dàng đối với các doanh nghiệp. Cung ứng và cho thuê lao động phổ thông ngắn hạn, dài hạn, có tay nghề trong nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất hàng hóa, lắp ráp linh kiện điện - điện tử - nhựa, chế biến thực phẩm, may mặc, dày da, gia công và chế biến gỗ, đóng gói và bốc xếp hàng hóa,....
Viet SEO Chất lượng giúp mục tiêu SEO website cuối cùng được hoàn, Bước tiếp theo cần thực hiện của một dịch vụ SEO chất lượng chính là tối ưu mã nguồn – code. Nó như một phần xương sống, quan trọng của website khi

Điều kiện đối với doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với doanh nghiệp trong nước

Dịch vụ cung ứng lao động (hay cung ứng nguồn nhân lực) là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Vậy hồ sơ, thủ tục và các bước để thành lập sẽ cần những gì? Bạn cần đảm bảo tuân thủ các điều kiện cũng như quy định khắt khe của mô hình này để có thể đăng ký thành lập và vận hành công ty hiệu quả. Bài viết này sẽ chia sẻ chi tiết cho bạn.

    Khái niệm về cung ứng lao động
    5 điều kiện để thành lập công ty cung ứng lao động
    Thủ tục và quy trình các bước để thành lập công ty cung ứng lao động
    Mã ngành nghề cung ứng và quản lý nguồn lao động

Khái niệm về cung ứng lao động

Cung ứng lao động, cung ứng nhân lực hay cung cấp nhân sự là hình thức một doanh nghiệp được cấp giấy phép cho thuê lại lao động.

Doanh nghiệp cung ứng lao động sẽ trực tiếp ký hợp đồng và quản lý người lao động, nhưng không trực tiếp sử dụng, mà sẽ cho doanh nghiệp khác thuê lại.

Người lao động được cung ứng sẽ chịu sự quản lý của công ty cung ứng nhân lực nhưng vẫn thực hiện và duy trì mối quan hệ lao động với người sử dụng lao động (doanh nghiệp khác thuê lại lao động).
5 điều kiện để thành lập công ty cung ứng lao động

Công ty cung ứng lao động là các công ty cung cấp dịch vụ có tư cách pháp nhân, được cấp giấy phép ĐKKD, giấy phép cung ứng lao động trong nước và hoạt động theo luật Việt Nam.

Kinh doanh dịch vụ cung ứng nguồn lao động, nhân lực là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Do đó, để thành lập công ty cung ứng lao động, doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định sau:

1. Điều kiện về vốn

Trải qua hơn 5 năm xây dựng và phát triển, Hà Nội đã trở thành địa chỉ cung ứng lao động được đông đảo khách hàng lựa chọn, tin yêu. Khi sử dụng dịch vụ cho thuê lại lao động của Hà Nội, quý khách hàng sẽ được hưởng những lợi ích Nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, qua khâu tuyển chọn nghiêm ngặt để chắc chắn, lao động có trình độ chuyên môn.

– Giúp các doanh nghiệp giải quyết được kịp thời vấn đề nhân sự cũng như các vấn đề về hợp đồng với người lao động.

– Giảm bớt chi phí tuyển dụng, đào tạo nhân viên, nâng cao lợi nhuận thu về từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Đảm bảo đáp ứng được các tiêu chí về nhân sự cho công việc doanh nghiệp đề ra.

– Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có tinh thần trách nhiệm với công việc, ý thức phục vụ cao.

Hãy liên hệ ngay với Hà Nội nếu doanh nghiệp của quý khách có nhu cầu sử dụng dịch vụ cung ứng lao động. Chúng tôi luôn sẵn lòng phục vụ quý khách hàng.

– Thời gian tiếp nhận nhân sự từ bên cung ứng lao động thường gần kề với thời điểm bàn giao dự án cho khách hàng. Khi nhận những người lao động, doanh nghiệp sẽ khó có thời gian nhiều để đào tạo, chỉnh đốn nếu chưa hài lòng hoặc thiếu kỹ năng cần thiết. Điều này có thể gây nguy hại cho doanh nghiệp nếu nó diễn ra trong khoảng thời gian dài.



– Nếu doanh nghiệp lựa chọn đơn vị cho thuê lại lao động không uy tín, kém chất lượng, rất dễ gặp trường hợp nhân sự được bàn giao yếu kém cả về kỹ năng lẫn thái độ làm việc. Hậu quả tất yếu xảy ra chính là chất lượng công việc sụt giảm, hiệu quả sử dụng chi phí của doanh nghiệp thấp, gây tổn thất nặng cho doanh nghiệp.

Dịch vụ cung ứng lao động tại Hà Nội

Cung ứng lao động tại Hà Nội cung cấp nhân công cho nhiều doanh nghiệp. Tùy vào yêu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp chúng tôi sẽ lựa chọn loại hình dịch vụ thích hợp nhất như:

– Cung ứng lao động thời vụ cho nhiều tỉnh thành trong cả nước

– Cung ứng lao động cho các ngành gia công hàng hóa, dệt may, lắp ráp linh, phụ kiện điện tử,…

– Cung ứng lao động bốc vác, vận chuyển hàng hóa

– Cung ứng lao động dọn dẹp vệ sinh cho các công ty, khu đô thị

– Cung ứng lao động làm nhân viên văn phòng, nhân viên kinh doanh, bán hàng có trình độ chuyên môn cho nhiều doanh nghiệp.

Ưu, nhược điểm việc sử dụng dịch vụ cung ứng lao động

    Ưu điểm

– Dịch vụ cho thuê lao động giúp giảm thiếu chi phí cho doanh nghiệp do thuê ngoài thường tốn ít chi phí hơn so với việc tự xây dựng đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp. Hơn nữa, doanh nghiệp cũng bớt được khoản phải trả thêm cho thuế thu nhập cá nhân, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cho nhân viên, phụ cấp ăn uống,…

– Giảm bớt chi phí xây dựng cơ sở vật chất cho nhân viên làm việc như phòng làm việc, bàn ghế, máy tính, văn phòng phẩm,…

– Đảm bảo công việc được diễn ra liên tục, không bị gián đoạn do thiếu hụt nhân sự bởi nhiều yếu tố như nghỉ ốm, thai sản, mở rộng quy mô sản xuất, tăng sản lượng, mùa cao điểm,….

    Nhược điểm

Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ cung ứng lao động cũng gặp phải một số mặt hạn chế như:

– Nhân lực từ dịch vụ cho thuê lao động không có sự ràng buộc trực tiếp với nghiệp, trong một số trường hợp, doanh nghiệp sẽ không chủ động, chịu sự phụ thuộc vào nguồn lao động này.

– Dễ bị các đối thủ cạnh tranh lôi kéo, gây ảnh hưởng xấu, làm sụt giảm sản lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

– Thái độ làm việc của người lao động cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hình ảnh công ty. Nếu thái độ không tốt, nó có thể làm cho diện mạo doanh nghiệp bị mất, mang tiếng xấu, kéo theo uy tín bị đi xuống, rất khó lấy lại được.

– Người lao động dễ chuyển việc, nhảy việc

Khi một doanh nghiệp chi trả mức lương thấp hơn so với khả năng làm việc của người lao động hoặc phúc lợi kém, họ dễ đánh mất nhân viên của mình cho công ty khác. Một số lại có tâm lý không muốn xa quê hoặc muốn chuyển về gần nơi mình sinh sống cho tiện đi lại cũng khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu hụt lao động.
– Tâm lý người lao động muốn tìm kiếm công việc ở các thành phố lớn



Tại rất nhiều địa phương, tỉnh thành, tuy công việc có nhiều nhưng người lao động lại muốn ra các thành phố lớn, trung tâm với mong muốn cơ hội kiếm thu nhập cao hơn. Tâm lý này phần lớn diễn ra ở độ tuổi từ 18- 35, độ tuổi lao động chính. Điều này kéo theo các doanh nghiệp tại địa phương, tỉnh nhỏ khó có đủ nhân công để làm việc.
Giải pháp thiếu hụt lao động

Thực trạng thiếu hụt lao động ở các công ty, doanh nghiệp đã có từ rất lâu, trong nhiều năm nay. Yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần phải có biện pháp giải quyết triệt để. Đã có rất nhiều doanh nghiệp thực hiện các chương trình khuyến khích người lao động bằng tiền lương, thưởng, trợ cấp, chế độ bảo hiểm, phúc lợi,…nhưng vẫn không thể xử lý dứt điểm vấn đề này.

Dịch vụ cung ứng lao động ra đời là biện pháp tối ưu, như một điểm sáng để giúp các doanh nghiệp khắc phục được tình trạng nan giải này. Bằng việc sử dụng dịch vụ này, các doanh nghiệp đã kịp thời có đủ số lượng nhân lực cũng như chất lượng phù hợp với yêu cầu của công việc. Cung ứng lao động chính là cầu nối quan trọng giữa người lao động với doanh nghiệp.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động

Trong bối cảnh trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tự động hóa bằng máy móc sẽ dần thay thế lao động tay chân, các doanh nghiệp muốn bắt kịp cần phải đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao chất lượng người lao động có trình độ.

Ở khu vực Nam Bộ, các tỉnh như Bình Dương, Bình Phước tập trung khá nhiều vào các ngành điện tử, dệt may, chế biến. Nguồn lao động sử dụng chủ yếu là lao động có trình độ phổ thông. Nguồn nhân lực này tuy đông nhưng đa phần thiếu sót về kỹ năng, kinh nghiệm, chưa qua đào tạo nên sẽ khó thích ứng với yêu cầu công việc cũng như môi trường làm việc của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu hụt nhân lực nghiêm trọng.
– Thiếu hụt lao động do quy mô nghề

Sự đa dạng trong quy mô cũng như cơ cấu công việc, nghề nghiệp của doanh nghiệp dễ khiến người lao động làm không đúng với chuyên môn, sở trường của mình. Nếu doanh nghiệp muốn nhân viên đó làm tốt công việc được giao thì phải đào tạo lại từ đầu. Tuy nhiên, chi phí bỏ ra để đào tạo lại cũng như thời gian cho quá trình đào tạo sẽ khiến doanh nghiệp chịu tổn thất.

Tình trạng thiếu hụt lao động hiện nay

Các công ty, doanh nghiệp trên thế giới cũng như Việt Nam đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động để phục vụ cho nhu cầu mở rộng sản xuất. Thực trạng tình trạng thiếu hụt lao động hiện nay được phản ánh trực tiếp như sau:

– Ông Trần Hảo Trí, Phó phòng Quản lý lao động, Ban Quản lý khu chế xuất – khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh, cho biết: “Nhu cầu tuyển dụng lao động diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề nhưng tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp dệt may, da giày, lắp ráp điện tử. Có đơn vị tuyển đến hàng ngàn người, chủ yếu là lao động thông, do nhu cầu duy trì và mở rộng sản xuất. Qua đăng ký tại Trung tâm dịch vụ việc làm và hỗ trợ doanh nghiệp – Ban quản lý, trong quý 1/2019 có 34 doanh nghiệp đăng ký tuyển dụng với 3.850 việc làm. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn chủ động tuyển dụng lao động ở các kênh khác”.

– Ông Nguyễn Xuân Lanh, phụ trách quản trị chiến lược và đối ngoại Công ty Esuhai, cho biết trong năm 2019, doanh nghiệp cần tuyển hơn 280 nhân sự với mục đích mở rộng quy mô.

Không chỉ thiếu hụt số lượng mà một vấn đề quan trọng không kém là chất lượng người lao động. Hiện nay, trong tổng số hơn 50 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên tại Việt Nam thì chỉ có khoảng 9.9 triệu người đã được qua đào tạo trường lớp cụ thể, tương ứng 18.6 % tổng số nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động. Tuy nhiên, dù được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp thì người lao động vẫn thiếu nhiều kỹ năng mềm quan trọng cũng như tinh thần trách nhiệm với công việc, khả năng thích nghi kịp thời với môi trường mới.



An toàn lao động và bảo hộ lao động

a) Người lao động được cung cấp (miễn phí/có phí) trang thiết bị bảo hộ lao động phù hợp với công việc và được người sử dụng lao động bảo đảm an toàn lao động trong thời gian làm việc theo hợp đồng.

b) Người lao động có trách nhiệm sử dụng các trang thiết bị bảo hộ lao động và tuân thủ các quy định về an toàn lao động.

3.5. Bảo hiểm

Người lao động có trách nhiệm tham gia và được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế, tai nạn theo quy định (8).

3.6. Điều kiện ăn, ở, sinh hoạt

Người lao động được cung cấp (miễn phí/có phí) ăn uống và chỗ ở.

3.7. Phí giao thông

a) Phí giao thông từ Việt Nam đến nước tiếp nhận lao động do……….……. chi trả.

b) Phí giao thông từ nước tiếp nhận lao động về Việt Nam sau khi kết thúc hợp đồng do............................ chi trả.

3.8. Trường hợp ốm đau, thương tật, tử vong

Người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm theo quy định pháp luật có liên quan của nước tiếp nhận lao động.

3.9. Chấm dứt hợp đồng trước thời hạn

a) Trường hợp người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động và về nước trước thời hạn mà không phải do lỗi của người lao động, Bên tiếp nhận có trách nhiệm bồi thường cho người lao động theo thỏa thuận và chi trả cho người lao động chi phí giao thông để trở về nước.

b) Trường hợp người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động và phải về nước trước thời hạn do lỗi của người lao động gây ra, người lao động có trách nhiệm bồi thường cho người sử dụng lao động và/hoặc Bên tiếp nhận về những thiệt hại do họ gây ra và tự chịu chi phí giao thông để trở về nước.

c) Trường hợp người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động và phải về nước trước hạn do bất khả kháng (thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh,...), hai bên có trách nhiệm thống nhất về chi phí giao thông để đưa người lao động về nước, xem xét hỗ trợ người lao động và giải quyết các vấn đề còn tồn tại trên cơ sở những quy định hiện hành của pháp luật.

Điều 4. Quyền và trách nhiệm của Bên cung ứng

4.1. Tuyển chọn người lao động theo các tiêu chuẩn và yêu cầu tại Điều 2 nêu trên.

4.2. Tổ chức bồi dưỡng ngoại ngữ, tay nghề (nếu cần thiết) và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động.

4.3. Chịu trách nhiệm làm các thủ tục xuất cảnh (khám sức khỏe, xin visa,...) cho người lao động phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng này.

4.4. Phối hợp với Bên tiếp nhận tổ chức quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá

Hình Ảnh