Các dịch vụ:
* Hợp thức hoá lao động: 0981.293.005 - 0969.786.635

Hợp thức hoá lao động

Thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Ninh

Lợi thế thứ hai, thời gian qua năng suất lao động (NSLĐ) của Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng NSLĐ cao trong khu vực ASEAN. Theo Tổng cục Thống kê, NSLĐ toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 đạt khoảng 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD), tăng 346 USD so với năm 2017. Tính theo giá so sánh, NSLĐ năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017, bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm, cao hơn mức tăng 4,35%/năm của giai đoạn 2011-2015.

Thứ hai, có chiến lược căn cơ về xây dựng vốn con người Việt Nam bao gồm kiến thức, kỹ năng và sức khỏe, được tích lũy trong suốt cuộc đời, để người dân nhận ra tiềm năng của mình như là thành viên hữu ích của xã hội. Chiến lược cần ưu tiên 2 mục tiêu cụ thể sau:

Một là, rút ngắn khoảng cách tụt hậu về cân nặng, chiều cao cho thế hệ tương lai thông qua tăng cường thực hiện các chính sách và chương trình dinh dưỡng, chăm sóc y tế, rèn luyện sức khỏe. Ưu tiên các chính sách an sinh xã hội hỗ trợ trẻ em các hộ gia đình có khó khăn về điều kiện kinh tế để góp phần giảm nhanh tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi và nhẹ cân;

Hai là, nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng cho thế hệ tương lai đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thông qua các chương trình cải cách giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo hướng khai phóng, khuyến khích và kích thích tính sáng tạo để phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân và tập thể.

Thứ ba, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các trường đại học, nhất là các trường đại học định hướng nghiên cứu. Nhà trường chủ động tiếp cận thị trường và tạo ra nhu cầu cho doanh nghiệp. Thương mại hóa mạnh mẽ sản phẩm khoa học công nghệ và khởi nghiệp của các khoa học. Các trường đại học, cơ sở đào tạo được quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, xây dựng cơ chế phân chia lợi ích hợp lý với tác giả và các bên liên quan phù hợp với Luật Sở hữu trí tuệ và Khoa học Công nghệ.

Thứ tư, tăng cường kết nối đào tạo, nghiên cứu khoa học và hỗ trợ khởi nghiệp. Tạo ra những chương trình, dự án phối hợp để kêu gọi các doanh nghiệp, nhà đầu tư tham gia xây dựng, phát triển sản phẩm dịch vụ mới và định hướng, đào tạo kỹ năng cho sinh viên, nghiên cứu sinh để giúp họ khởi nghiệp vì mục tiêu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao.

Hợp thức hoá lao động

Thứ năm, tăng cường kết nối đào tạo và sử dụng lao động. Tăng cường thông tin thị trường lao động. Mở rộng liên kết giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong xây dựng chương trình đào tạo, mở rộng môi trường và cơ hội thực hành và cơ hội việc làm cho học sinh/sinh viên.

Thứ sáu, đổi mới có tính cách mạng về tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và trả công lao động; gắn sử dụng, đánh giá với đào tạo nguồn nhân lực. Xây dựng môi trường làm việc, trọng dụng nhân tài đồng bộ, tạo cơ hội cho người tài phát huy năng lực và thu hút nhân lực trình độ cao là người Việt đang làm việc ở nước ngoài, Việt kiều và chuyên gia nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam.

Trong quá trình phát triển KT-XH, nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Ninh đã có sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và không ngừng nâng cao về chất lượng; cơ cấu lao động thay đổi theo hướng phù hợp với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

- Về số lượng: do có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ nên tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bắc Ninh luôn ở mức cao hơn bình quân chung từ 2 đến 2,5 lần, thu nhập bình quân đầu người gấp trên 3 lần mức bình quân cả nước. Bắc Ninh là địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư, nhất là đầu tư FDI góp phần tạo lực hút lớn đối với lao động nhập cư từ các địa phương khác nên nguồn nhân lực rất dồi dào. Toàn tỉnh hiện có trên 1,15 triệu người với gần 738 nghìn người trong độ tuổi lao động, chiếm 63,9% dân số, dấu hiệu này cho thấy dân số Bắc Ninh đang trong giai đoạn “dân số vàng”. Nguồn lao động của tỉnh có tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 2,5%/năm và tăng dần qua các năm. Năm 2015, tổng nguồn lao động (bao gồm những người trong độ tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động vẫn có khả năng lao động) có 822,1 nghìn người, chiếm tỉ lệ 71,2% dân số, trong đó lao động đang làm việc trên 648,51 nghìn người, chiếm tỉ lệ 78,88% so với tổng nguồn lao động. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực có cơ cấu trẻ rất cao, số lao động trong độ tuổi từ 20 - 44 chiếm 66,5% trong các tuổi tham gia lao động, nhóm tuổi từ 20 - 24 chiếm trên 11,45%, nhóm tuổi từ 25 - 29 chiếm 14,5%, nhóm từ 30 - 34 tuổi chiếm 13,05%. Đây là lợi thế lớn cho tỉnh Bắc Ninh trong quá trình thu hút đầu tư trong và ngoài nước.

- Về chất lượng: trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây không ngừng được nâng cao. Học vấn tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên chiếm tỉ lệ 23,6%; tốt nghiệp trung học cơ sở 44,34%. Hàng năm, tỉnh Bắc Ninh có khoảng 7.000 sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng. Học viên trung cấp, công nhân kỹ thuật được đào tạo ngắn hạn có khoảng 11.000 người, trong đó ngành nghề chuyên môn kỹ thuật chiếm 40%, ngành nghề chuyên môn quản lý nghiệp vụ chiếm 60%. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động cũng được cải thiện đáng kể. Kết quả điều tra lao động việc làm năm 2002 và theo niên giám thống kê năm 2015 cho thấy, số lao động đã qua đào tạo tăng từ 22,9% năm 2002 lên 24,2% năm 2015(2). Trong tổng số lao động đang làm việc, chuyên môn kỹ thuật bậc cao chiếm 8,6%; chuyên môn kỹ thuật bậc trung chiếm 10,8%; các nghề giản đơn và thợ chiếm 49,2%; các loại công việc khác chiếm 31,4%.

Hợp thức hoá lao động


Việc các doanh nghiệp nước ngoài muốn gia nhập thị trường Việt Nam nhưng chưa nắm rõ các quy định của luật lao động Việt Nam; doanh nghiệp có đội ngũ nhân sự quá đông mà phòng nhân sự không đủ mạnh để quản lý hết các công việc liên quan hay doanh nghiệp muốn giảm thiểu chi phí quản lý nguồn nhân lực mà doanh nghiệp không có chuyên môn trong đó thì dịch vụ Hợp thức hóa lao động của TTV sẽ là sự lựa chọn phù hợp. Dịch vụ Hợp thức hóa lao động TTV là hình thức mà trong đó Đối tác vẫn tự chủ động trong việc tổ chức tuyển dụng ứng viên theo yêu cầu công việc riêng của mình và ủy thác việc ký hợp đồng lao động và quản lý toàn bộ mặt nhân sự này cho chúng tôi trực tiếp chịu trách nhiệm.

Chất lượng nguồn nhân lực của Bắc Ninh được nâng cao do có sự quan tâm đầu tư của chính quyền tỉnh và sự mở rộng các loại hình giáo dục - đào tạo. Hiện nay, hệ thống đào tạo của tỉnh Bắc Ninh phát triển khá nhanh với đầy đủ các loại hình từ mầm non đến đại học và dạy nghề. Năm học 2014-2015, Bắc Ninh có 161 trường mầm non, 154 trường tiểu học, 135 trường trung học cơ sở, 35 trường trung học phổ thông và đội ngũ giáo viên 15.030 người. Đặc biệt, Bắc Ninh có 8 trường đại học, cao đẳng với 989 giảng viên, trong đó giảng viên có trình độ trên đại học là 560 người (chiếm 56,6%). Mỗi năm tỉnh Bắc Ninh có thể tuyển hơn 4,5 nghìn sinh viên. Đội ngũ giáo viên dạy nghề tăng đáng kể với 1.552 người (tăng 32% so với năm 2012), trong đó 167 người có trình độ sau đại học. Bắc Ninh còn đặc biệt quan tâm và định hướng cụ thể việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao với nhiều chương trình đào tạo như: đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ quản lý nhà nước và quản trị kinh doanh, ngành giáo dục - đào tạo, ngành công nghệ sinh học... Các chương trình này đã cung cấp cho tỉnh lực lượng cán bộ có năng lực, có trình độ chuyên môn, đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu nhân lực cao trong quản lý hành chính, giáo  dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học.

- Về cơ cấu nguồn nhân lực: cơ cấu kinh tế và cơ cấu nguồn nhân lực đã và đang chuyển dịch phù hợp với định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (xem biểu đồ 2).

Biểu đồ 2. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của Bắc Ninh giai đoạn 2011- 2015 (Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2015).

Biểu đồ trên cho thấy tỷ trọng công nghiệp – xây dựng đang có xu hướng tăng nhưng chậm dần, tỷ trọng lao động dịch vụ tăng nhanh hơn, riêng lao động nông nghiệp có xu hướng giảm mạnh.

2. Một số hạn chế về nguồn nhân lực

Bên cạnh những kết quả đạt được, tỉnh Bắc Ninh gặp phải một số khó khăn và hạn chế sau:

Một là, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức khá cao, lao động nhập cư chất lượng thấp vẫn là chủ yếu. Mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và nguồn lao động chưa hợp lý kéo theo tình trạng dư thừa lao động: tỉ lệ thất nghiệp của tỉnh Bắc Ninh năm 2015 là 2,29%, trong đó khu vực thành thị là 3,11% và khu vực nông thôn là 1,97%. Mặc dù là nguồn cung cấp nhân lực chủ yếu cho tỉnh, nhưng lao động nhập cư chủ yếu xuất thân từ nông thôn nên chất lượng thấp (ở Việt Nam lao động thành thị đã được đào tạo chiếm 30,9%, trong khi ở nông thôn chỉ có 9%). Lao động từ nông thôn ra thành thị có mục đích chính phải là học nghề, học việc mà là tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên, do trình độ không đáp ứng yêu cầu nên chỉ làm những công việc mang tính chất thời vụ, buôn bán hoặc những việc không đòi hỏi trình độ chuyên môn, kỹ thuật, vì vậy công việc rất bấp bênh và dễ thất nghiệp.

Hợp thức hoá lao động

Theo điều tra của Ban quản lý khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh, đến hết quý I năm 2016, tỉnh Bắc Ninh có 199.212 lao động làm việc tại các khu công nghiệp, trong đó có 66.389 lao động là người địa phương, chiếm 33,3%, lao động là người nước ngoài có 2.543 người, chiếm 1,28%; có 130.280 lao động nhập cư, chiếm 65,42%. Qua đó cho thấy, mặc dù tốc độ tăng nguồn nhân lực cao nhưng chủ yếu là nguồn nhân lực có trình độ thấp, nguồn nhân lực chất lượng cao không đủ để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Hai là, chất lượng nguồn nhân lực chưa theo kịp đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa. Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật là thước đo quan trọng của chất lượng nguồn lao động. Tuy nhiên, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, lao động có tay nghề của Bắc Ninh còn thấp. Tỉ lệ lao động trình độ cao đẳng, đại học chỉ có 3,7%, thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình cả nước (8,4%). Tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo vẫn lớn, chiếm 75,8% tổng số lao động. Phân bố nguồn nhân lực chưa đồng bộ, còn mất cân đối, xảy ra tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu trong các ngành kinh tế, nhiều ngành lao động đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật nhất định còn thiếu khá nhiều như lập trình, điện tử...

Ba là, còn xảy ra tình trạng mất cân bằng cung cầu lao động. Hiện nay, ở Bắc Ninh tồn tại một nghịch lý là dù nguồn nhân lực dồi dào, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn rơi vào tình trạng thiếu lao động do nhu cầu sử dụng lao động có tay nghề, chất lượng cao của các doanh nghiệp liên tục tăng. Là địa phương đi đầu trong việc thu hút vốn đầu tư nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng, trong nhiều năm qua số lượng các doanh nghiệp đầu tư hoạt động ở Bắc Ninh tăng lên rất nhanh. Năm 2011 mới có 3.521 doanh nghiệp, trong đó 190 là doanh nghiệp FDI thì đến năm 2015 đã có 5.416 doanh nghiệp, bình quân mỗi năm tăng 11,4% khiến cho nhu cầu về nguồn nhân lực tăng cao: năm 2011 có 155.518 lao động, trong đó có 68.726 lao động làm việc cho doanh nghiệp FDI thì đến năm 2015 có 271.284 lao động, bình quân mỗi năm tăng 14,9%, trong đó khu vực FDI là 170.254 người, tăng bình quân 25,5%/năm. Trong khi đó, tỷ lệ lao động có trình độ phù hợp không đủ đáp ứng cho nhu cầu của các doanh nghiệp.

Bốn là, chất lượng đào tạo nhân lực còn nhiều hạn chế. Quá trình hội nhập quốc tế luôn đặt ra những đòi hỏi khách quan đối với nguồn nhân lực về số lượng cũng như năng lực và phẩm chất cần thiết của người lao động. Nếu như trước đây, người lao động chỉ cần có đức tính tốt, cần cù, trung thành và có tinh thần trách nhiệm, thì ngày nay, trong thời kỳ hội nhập người lao động ngoài trình độ chuyên môn lành nghề còn phải có tính sáng tạo, có khả năng phân tích, tinh thần đồng đội, có trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin, am hiểu luật pháp… Điều đó phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng giáo dục – đào tạo.

Mặc dù trình độ văn hóa của người lao động đã được nâng cao, hệ thống giáo dục - đào tạo đã được cải tiến nhiều, chất lượng đội ngũ giáo viên được nâng lên ngày càng tiếp cận gần hơn với hệ thống giáo dục quốc tế, tuy nhiên, thực tế chất lượng giáo dục - đào tạo vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp. Nhiều lao động được đào tạo từ các trường cao đẳng, đại học khó tìm được việc làm theo chuyên môn đào tạo; thậm chí nhiều sinh viên khi nộp đơn vào doanh nghiệp FDI không dám khai là có bằng đại học. Trong khi đó xu thế hiện nay thanh niên vẫn lựa chọn vào các trường cao đẳng, đại học hơn là các trường đào tạo nghề.

 


Đèn led nhà xưởng Dòng đèn Led nhà xưởng có công suất chiếu sáng khác nhau, Áp dụng công nghệ sản xuất Led hiện tạo nên ánh sáng hoàn hảo, ổn định, đều màu và không gây hại mắt ảnh hưởng tới công nhân làm việc trong nhà
Cáp điện thoại 100 đôi 100x2x0.5 100P-0.5 Cáp điện thoại 2 đôi 2x2x0.5 hay vẫn thường được gọi với, Vậy cáp thoại của hãng có những đặc điểm nổi bật nào? Bài viết dưới đây của capdienthoai sẽ giúp bạn tìm hiểu một số thông tin về cáp

- Phone: +84-908-744-256